Chương 465: 466
Cách sống sót với tư cách con trai thứ của gia đình phép thuật · Miumiuma · 557 chương · ~46 phút đọc · Tạo 09/08/2026
Tập 1
"Bây giờ ấy hả? Thánh lễ vừa mới bắt đầu mà?"
Tôi cúi đầu thì thầm. Elias, với đôi mắt đang rực sáng, ghé sát về phía tôi và tuyên bố đầy quả quyết:
"Phải, ngay bây giờ. Chúng mình ra ngoài được chứ?"
"Ha ha… Không đâu… Như thế thì hơi kỳ."
Narke thì thầm đáp lại. Dù chẳng ai giữ nếu chúng tôi ra ngoài, nhưng xét về phép lịch sự thì câu trả lời là không. Elias ôm đầu, rồi nhanh chóng dùng tay vuốt dọc sống mũi, đôi mắt xanh biếc bắt đầu đảo liên hồi tứ phía. Trông cậu ấy như đang tìm cách lẻn ra ngoài mà không gây chú ý. Nhưng làm gì có cách nào như thế, cậu ấy đành cam chịu buông tay, người sụp xuống. Tôi đặt tay lên tấm lưng đang rũ xuống của cậu ấy, thì thầm:
"Cứ thế này chợp mắt một lát đi, khi tỉnh dậy cậu vẫn sẽ nhớ rõ…"
"Ưừmmm."
Elias đột nhiên dời phần thân trên về phía hông tôi. Có vẻ đã có sự hiểu lầm trong giao tiếp, tôi không hề bảo cậu ấy ngủ trên đùi mình. Thật không còn gì để nói, khi tôi định đẩy ra thì Elias không chịu thua mà còn rúc sâu hơn. Tôi cảm nhận được những ánh nhìn từ các tín hữu xung quanh vì sự xôn xao thầm lặng này. Ngay khi tôi đang nhăn mặt cầu cứu Narke, Elias rút cuốn sổ tay từ chiếc ví cầm tay đặt trên bao đựng đũa phép ra. Cứ bảo một tiếng là tôi đưa cho mà.
Tôi đẩy Elias ra như muốn trách móc, cậu ấy chỉ cười hì hì. Nhưng rồi ngay lập tức, gương mặt cậu trở nên nghiêm nghị khi lật mở cuốn sổ.
Lúc nãy khi tra cứu tư liệu, cậu ấy cứ liếc nhìn phần nhật ký của tôi đến phát chán, vậy mà giờ đây chẳng thèm đếm xỉa đến những trang đã có chữ, chỉ mải miết tìm trang trống để nguệch ngoạc viết từ. Có lẽ cậu ấy muốn hạn chế tối đa thông tin từ bên ngoài để những dữ liệu mới không làm nhiễu loạn ý tưởng cũ. Tiếng ngòi bút máy sột soạt trên giấy hòa quyện vào giọng nói trầm lắng của vị linh mục, vang vọng khắp không gian.
Phớt lờ những ánh nhìn xung quanh, tôi quyết định tận hưởng cảnh vật trong khi chờ Elias chốt hạ kết luận. Ánh nắng ban mai chạm vào vòm trần vàng rực rỡ, uy nghiêm mà phải ngửa cổ hết cỡ mới thấy được điểm tận cùng. Những cột đá cẩm thạch mang phong cách Byzantine dựng giữa trần nhà và những bức tường khảm vàng tuy có vẻ dị biệt nhưng lại là lựa chọn tuyệt vời để tôn lên vẻ huyền bí. Nó khiến tôi lập tức cảm nhận được mình không còn ở Đức nữa.
Những dãy cuốn bằng đá trụ vững hai bên lối đi giữa nhà thờ vốn rất quen thuộc vì thường thấy ở các nhà thờ phong cách Romanesque và Gothic, hơn nữa những dãy hành lang cột vòm tương tự cũng đang được xây dựng khắp nơi ở châu Âu. Tuy nhiên, với quy mô đồ sộ của vương cung thánh đường này, tôi không khỏi cảm thấy bị choáng ngợp. Mặt sàn được khảm những mảnh mosaic từ thời Trung cổ, một hình ảnh cũng khá thân thuộc với tôi.
Giữa tiếng bút máy, giọng vị linh mục vang vọng nhiều lần trên vòm trần cao vút và những tiếng động nhỏ phát ra từ sự cựa mình của dòng người, tôi nhắm mắt lại.
Khi mở mắt ra lần nữa, tôi cảm nhận được lớp khăn voan mềm mại chạm vào gò má. Tia sáng muộn màng chiếu xuyên qua đồng tử. Có vẻ mặt trời đã đổi hướng, nắng chiếu lên tận mặt chúng tôi khiến cơ thể ấm sực.
"Người thì mải miết viết, người thì lăn ra ngủ."
Người đứng ngược sáng mỉm cười quở trách. Trong cơn ngái ngủ, tôi chậm rãi quay đầu quan sát xung quanh. Mọi người đang lục tục kéo nhau ra ngoài. Hỏng bét, thế là lỡ cả phần Hiệp thông rồi. Chắc họ nghĩ chúng tôi là khách du lịch nên cũng mặc kệ chăng. Tôi nhấn mạnh mu bàn tay lên mắt, lẩm bẩm:
"…Xin lỗi. Tớ mệt quá."
"Cũng phải thôi. Đi đến chỗ nào nghỉ ngơi thoải mái hơn chút đi."
Narke làm động tác như đang uống thuốc tăng lực. Cảm giác buồn ngủ kéo đến khiến tôi nghĩ cũng đã đến lúc cần bổ sung rồi. Nhưng uống bây giờ thì lộ liễu quá, phải tìm chỗ nào không có người đã. Elias thì đang làm đủ trò kỳ quặc, hết dắt bút máy lên tai lại ngậm vào miệng, rồi lại mở nắp viết tiếp gì đó. Tôi định nhắc nhở chuyện vệ sinh nhưng thôi — biết làm sao được — tôi bước ra khỏi nhà thờ, đi theo sau Narke. Cậu ấy băng qua quảng trường, hướng về phía tòa nhà Procuratie Nuove ở phía Nam.
Chúng tôi đi dọc theo những dãy cột vòm vào sâu bên trong tòa nhà để tìm một quán cà phê.
"Gì vậy, quán cà phê cách đây có 5 phút đi bộ thôi à?"
"Ha ha. Cậu biết Giacomo Casanova không? Nghe nói ông ấy cũng hay ghé đây lắm. Cả Byron nữa."
"Hừm, Byron thì còn được, chứ Casanova mà hay ghé thì… không biết là điều tốt hay xấu nữa."
"Được đến nơi mà những người nổi tiếng từng ghé thăm cũng là một trải nghiệm thú vị mà. Hình dung xem họ đã nghĩ gì khi nhìn ngắm phong cảnh này cũng hay đấy chứ. Vừa hay nước biển Adriatic đã tràn vào quảng trường, hay là mình ngồi uống ở ngoài nhé?"
"Được thôi."
Hiện tượng nước biển Adriatic dâng cao gây ngập lụt ở Venezia được gọi là Acqua Alta. Tôi nhìn làn nước biển nông nhuộm sắc nắng sớm trên quảng trường. Acqua Alta thường nghiêm trọng nhất vào mùa đông và giảm dần vào mùa hè, nhưng vào đầu tháng Tư như hiện tại thì cũng chưa thể hoàn toàn yên tâm. May mắn là hôm nay nước không ngập quá sâu, chắc chỉ tầm 5cm. Tôi vốn đi ủng để che đi lớp băng gạc, không ngờ nhờ thế mà chẳng lo ướt chân, đúng là may mắn.
Ngồi xuống bàn ngoài trời, tôi khẽ nhắm rồi mở mắt theo nhịp chuyển động của những tia nắng dập dềnh trên mặt nước. Tiếng vỗ cánh của đàn bồ câu trắng khiến tâm trí tôi dần xa xăm.
"Ê hế~ Thời tiết đẹp thật đấy nhỉ?"
Elias bỗng xuất hiện, búng tay trước mặt tôi. Tôi giật mình bỏ tay đang chống cằm ra, mở to mắt để xua đi cơn buồn ngủ. Elias nãy giờ cứ lẽo đẽo theo sau Narke để giúp cậu ấy gọi món, giờ cả hai đã quay lại chỗ ngồi.
Một lát sau, nhân viên phục vụ đặt tách trà xuống bàn. Tôi khéo léo giấu lọ thuốc tiên trong lòng bàn tay rồi đổ vào tách. Nhấp một ngụm nhỏ, đầu óc tôi lập tức tỉnh táo hẳn ra. Chắc là uống hết tách này sẽ thấy khá hơn nhiều. Với sự kỳ vọng đó, tôi nhìn sang các bạn. Narke cũng đang nhìn Elias. Nhận được sự chú ý của chúng tôi, Elias rướn thẳng lưng như một diễn giả, hắng giọng một tiếng rồi làm bộ vuốt ve hàng ria mép không tồn tại.
"Xin chào quý vị và các bạn."
"Nói nhanh lên hộ cái."
"Xì."
Elias tặc lưỡi lắc đầu rồi cúi người về phía bàn như khi đang chơi game. Cậu nhìn chúng tôi với vẻ mặt bi tráng, rồi bỏ một miếng bánh quy việt quất vào miệng, vừa nhai vừa lúng búng nói:
"Nào, quăng cho tớ một từ đi."
Từ ngữ ư? Chẳng cần hỏi tôi cũng đoán được cậu ấy định làm gì. Cậu ấy muốn chúng tôi cùng 'khởi động' tư duy suy luận. Có lẽ cậu ấy vẫn nhớ phản ứng của chúng tôi vào cái ngày cậu ấy dùng Moby Dick và Leviathan để dựng nên khung sườn cho giả thuyết của mình. Vì không phải là một kẻ tầm thường, cậu ấy muốn thuyết phục những người tầm thường như chúng tôi — ít nhất là tầm thường so với trí tưởng tượng bay bổng mà chúng tôi không thể dễ dàng theo kịp của cậu ấy — tôi hiểu quá trình đó.
Tôi nhận miếng bánh quy từ Narke, vừa ăn vừa nói:
"Cam Cyprus."
"Hừm, cậu vẫn còn nhớ chuyện đó à. Cảm động quá. Chúng mình sẽ cùng đi ăn nhé. Để tớ xem kỹ năng gọt cam của cậu thế nào."
"Dùng dao thì tớ không tự tin lắm. Cứ dùng sức bóc vỏ đưa cho cậu là được chứ gì."
"Thấy chưa? Đàm phán là phải như thế này này~!"
Elias chỉ vào tôi rồi huênh hoang với Narke. Thực ra lúc đang ngồi thuyền đi qua hồ Constance, tôi chỉ bảo cậu ấy hãy 'tưởng tượng' về cam Cyprus chứ không hề rủ đi Cyprus ăn cam, vậy nên Elias đang rất đắc ý vì vừa dùng lời lẽ đó để lôi kéo tôi vào cái 'hội ăn cam ở Cyprus' bằng được. Có vẻ là như thế.
Tôi chỉ mỉm cười rồi đáp:
"Có gì mà phải cảm động. Ngay cả khi cậu không ép tớ nhớ, tớ cũng chẳng bao giờ quên những gì tớ đã nói với cậu đâu."
"Tại sao?"
Tại sao ư? Tôi đẩy sự tự bào chữa có chủ đích và không chủ đích ra sau tâm trí, rồi chợt thấy hơi bối rối trước câu hỏi bất ngờ.
Làm sao tớ có thể quên khoảng thời gian bên một người bạn như cậu được — đáp như thế cũng được, và đó là sự thật, nhưng trong lòng tôi nảy sinh một sự cưỡng cầu kỳ lạ rằng mình phải nói điều gì đó chân thật hơn nữa với Elias. Vẫn với cảm giác bối rối đó, tôi thì thầm:
"Vì không thể quên được."
"……."
Nghe vậy, Elias khẽ chớp mắt, dường như cuối cùng đã nắm bắt được một chủ đề tâm đắc, cậu reo lên: "Sự không quên (bất vong) sao—" rồi nhìn ra làn nước biển trên quảng trường.
"Thật là một chuyện bất hạnh."
"Đúng vậy."
"Hử? Tớ nói thế theo nghĩa là cậu không thể hái trái cấm của cây biết thiện ác đấy."
"Tớ cũng nghĩ vậy."
Đôi mắt sâu thẳm như đại dương của Elias hướng về phía tôi. Những cuộc trò chuyện với Elias tuy dựa trên vô số kiến thức học được từ trường trung học Gymnasium thời đại này, nhưng luôn dẫn lối đến những câu chuyện xa xăm hơn thế.
Không thể hái trái cấm, điều đó nghĩa là gì?
Phải chăng cậu ấy coi một thế giới khả hữu nào đó — nơi vườn Địa đàng vẫn tồn tại duy nhất sau hàng vạn năm kể từ khi Adam và Eve chưa đổi lòng — là thế giới duy nhất và tôi đang hiện hữu ở đó? Hay ý cậu ấy là kẻ quan sát mọi sự từ trên cao thì buộc phải 'bất vong'? Thiên Chúa chẳng bao giờ quên bất cứ điều gì. Hay ý cậu ấy là bản thân việc đạt được tự do, tri thức và sự thoát ly khỏi sự ngu muội mà trái cấm biểu tượng là điều bất khả thi đối với tôi?
Nếu vậy, tôi sẽ mãi mãi phải sống như một con búp bê không có ý chí tự do trong vườn Địa đàng. Đây là lời chúc tụng tệ hại nhất đối với một kẻ vô thần như tôi, và thực tế đối với một người hữu thần như Elias, chắc hẳn cũng vậy.
Elias không làm rõ điều gì, và tôi cũng thế. Một cuộc đối thoại hệt như lúc nói về Moby Dick. Tôi thích những cuộc trò chuyện không thể nắm bắt như thế này. Dù có là những câu chuyện mà người ngoài nghe thấy sẽ tưởng tất cả chúng tôi đều phát điên, nhưng chính sự độc đáo đó đã bộc lộ rõ tư duy đa diện của Elias và là bằng chứng cho thấy cậu ấy đang đón nhận cuộc sống như một phần của nghệ thuật. Tôi đang ở Venezia, nhưng cảm giác như mình lại vừa bước lên con thuyền nhỏ trên hồ Constance.
Elias để gió lướt qua đầu ngón tay, dõng dạc tiếp lời:
"Kẻ không thể quên có thể trở thành hậu duệ đức tin của Abraham, nhưng đồng thời cũng chính là cha của Abraham. Tại sao ư? Hãy thử nghĩ xem, nếu uống nước suối Lethe mà vẫn không thể quên được gì — cậu sẽ không bao giờ phải nhận sự quở trách của Beatrice đâu."
Khi cái tên Beatrice vang lên, Narke mỉm cười. Elias đã tự nhiên dẫn dắt đến tác phẩm Thần Khúc. Người uống nước sông Lethe sẽ quên đi ký ức trần gian để lên thiên đàng. Trong Thần Khúc, nhân vật chính được rửa tội bằng nước sông Lethe, sau khi mất đi ký ức đã bị Beatrice quở trách nặng nề. Bởi việc anh ta có ký ức để mà quên chính là bằng chứng của tội lỗi, nghĩa là vẫn còn tham luyến bụi trần. Tôi nhớ lại tất cả những lời giải thích đã học trong giờ văn học ở Học viện giáo dục số 2, khẽ nói:
"Liệu có khả năng nào dù trí nhớ tốt đến đâu, hễ uống nước sông là sẽ quên sạch không? Nếu được, tớ cũng muốn quên hết mọi thứ để được thanh thản."
"Nếu sau khi uống nước suối Lethe mà chẳng có gì bị lãng quên, điều đó nghĩa là người đó đã sống gần với giáo huấn của Đấng Christ hơn bất kỳ ai. Khi đó, ký ức trọn vẹn là một phước lành, còn sự lãng quên là lời nguyền chết chóc giáng xuống hậu duệ của Adam. Dẫu cho sự lãng quên có thể nhường chỗ cho những ký ức mới hóa thành tình yêu, dẫu đó là nguồn cơn làm nên sự kiên cường của con người, nhưng về cơ bản, sự lãng quên xảy ra khi ân điển vốn rơi rụng trên chúng ta như ánh sáng không còn là ân điển nữa."
Khi những điều diệu kỳ bao quanh không còn là điều diệu kỳ nữa, tinh thần sa vào thói quen và ân điển rơi vào miền quán tính. Thói quen gia tốc thời gian và làm vạn vật già nua. Thói quen chính là sự lãng quên. Sự lãng quên là bằng chứng của nguyên tội vận vào con người — câu nói đó đâm sâu vào tim tôi. Một lần nữa, cậu ấy bắt đầu từ chuyện phiếm về cam Cyprus để rồi xuyên thấu bản chất thông qua Thần Khúc.
Dù sao thì, Elias vẫn phớt lờ lời tôi mà tiếp tục câu chuyện, và tôi cảm thấy cậu ấy rất giống một Elias khi đã trưởng thành hơn. Ngay cả trong cuốn tiểu thuyết tôi từng đọc, Elias 18 tuổi chưa bao giờ non nớt, nhưng lúc này cậu ấy mang lại cảm giác còn già dặn hơn thế. Sau khi làm tâm trí tôi rối bời, Elias vẫn thản nhiên nói tiếp:
"Nhưng đó là góc nhìn của ai? Từ góc nhìn của Đấng Toàn Tri, vô số sự lãng quên là lời nguyền và là căn bệnh khiến con cái Ngài hướng về con đường rộng thênh thang. Kẻ không quên sẽ sống dưới khả năng vô hạn để thấu hiểu vạn vật. Với kẻ thấu hiểu vạn vật, họ không còn dục vọng. Nó giống như một vũ trụ toàn tri vậy. Ngược lại, sự lãng quên đặt ra giới hạn cho con người, thúc giục con người nắm chặt nắm đấm hướng về đỉnh cao mà họ không bao giờ có thể chạm tới.
Đó chính là con đường rộng mà Narke đã nói, và từ đó sự hỗn loạn của thế gian nảy sinh. Đến đây, ta có thể nói Thiên Chúa — Đấng bất vong — đã ban hình phạt lãng quên cho hậu duệ của Adam và Eve. Nhưng dưới góc độ của con người chúng ta, những hậu duệ của Adam đứng trên thế gian với đôi chân yếu ớt không thể gánh vác toàn bộ gánh nặng trên vai Đấng Toàn Tri… thì sự lãng quên lại trở thành một điều cực kỳ diễm phúc khi con người tự thừa nhận sự yếu đuối của mình và cúi đầu dưới chân Đấng Tối Cao. Cậu hiểu ý tớ chứ?"
"Tất nhiên. Chẳng có lý do gì để không hiểu cả."
"Phải, thế nên tớ cầu mong cậu hãy uống nước suối Lethe và quên đi được chút gì đó."
"Không ngờ những lời này lại có thể dùng làm lời chúc tốt lành đấy…"
Narke thì thầm. Tôi nhún vai, cảm thấy một sự trống trải khó tả trong cuộc đối thoại vừa mang đậm tư tưởng phản kháng của Elias, vừa như một rổ lời mắng nhiếc dành cho đặc điểm cá nhân của tôi. Elias vẫn thản nhiên quay lại chuyện cam Cyprus rồi lẩm bẩm:
"Nào, nếu nãy giờ các cậu vẫn theo kịp, thì hãy dùng chính logic vừa rồi để phân tích về Thánh Mark đi."
Trước câu nói đó, tôi vẫn lặng lẽ nhìn xuống mặt bàn. Thấy Elias khua tay trước mặt, tôi đọc lên một câu văn trong cuốn sách của Nietzsche mà tôi đã đọc từ mùa hè 7 năm trước:
"Thực ra, tớ đã đọc về một triết gia cũng nói rằng phước lành thuộc về những kẻ biết lãng quên."
"Hừm, tốt lắm. Cùng một chủ đề đấy. Vậy tại sao phước lành lại thuộc về kẻ lãng quên?"
"Vì nhờ quên đi mà họ chấm dứt được những hành vi ngu muội. Kẻ biết quên không bám chấp vào quá khứ, không chấp nhất vào hận thù. Có thể coi lãng quên là sự tha thứ của tự nhiên, còn ký ức chính là khả năng của sự trả thù. Quan trọng hơn, người này coi lãng quên không phải là thói quen mà là một năng lực ngăn chặn chủ động. Trong lúc lãng quên, con người có thể giữ khoảng cách với sự tranh đoạt của vạn vật để bảo vệ chính mình. Sự tĩnh lặng có chủ đích ngự trị trong họ.
Kẻ không thể lãng quên là kẻ đã đánh mất năng lực này, nên ở họ không có hạnh phúc, không có niềm vui, không có hy vọng và cũng không có cả hiện tại."
"Tóm lại, lãng quên là sức mạnh của 'động vật'. Vẫn thế nhỉ."
Phải, vẫn thế. Đúng như Elias nói, từ góc nhìn của Đấng Tối Cao, lãng quên là sự yếu đuối, nhưng với con người, lãng quên lại trở thành quyền năng. Đến đây, tư tưởng của hai bên có phần tương đồng. Tuy nhiên, quá trình trung gian thì hơi khác: với Elias, chỉ khi con người thừa nhận mình chỉ là một con người tầm thường thì khi đó sự lãng quên mới là phúc lành. Nietzsche hẳn sẽ không nghĩ hoàn toàn như vậy. Elias gõ nhẹ ngón tay, lẩm bẩm:
"Năng lực ngăn chặn chứ không phải thói quen sao, có vẻ đây là một triết gia đặt rất nhiều kỳ vọng vào con người đấy. Một góc nhìn thú vị."
"……."
"Nghĩa là thông qua quá trình 'tiêu hóa' bằng sự lãng quên, con người có thể xây dựng nên một cái tôi tách biệt với vạn vật. Kẻ không thể lãng quên là kẻ đã mất đi khả năng tiêu hóa, kẻ đó buộc phải trở thành một thể thống nhất với vạn vật hơn là xây dựng cái tôi, và buộc phải tồn tại trong mọi thời điểm. Nghe có vẻ là như vậy."
"Có lẽ vậy…"
"Hay đấy. Triết gia đó là ai thế? À, dù nghĩ thế nào thì đó cũng là một góc nhìn cực kỳ nhân bản. Khẳng định của tớ rằng 'sự lãng quên trở thành điều diễm phúc khi con người tự thừa nhận sự yếu đuối và cúi đầu trước Đấng Tối Cao' chắc chắn sẽ không chạm tới người này. Vì người này đang có những tư tưởng cực kỳ phản Kitô. Trong thế giới của người này, Thiên Chúa không phải là Đấng Toàn Tri… Vị trí đó thuộc về con người. Với triết gia này, để trở thành con người, nhất định phải biết cách lãng quên."
"……."
Tôi thực sự muốn vỗ tay khen ngợi. Cậu học sinh với mái tóc đen khác biệt và đôi mắt xanh rực sáng trước mặt vẫn là Elias, và năng lực của cậu ấy vẫn xuất chúng như vậy. Chúng tôi sẽ còn vất vả nhiều nếu muốn theo kịp những thông thái của cậu ấy.
Tôi vẫn không trả lời câu hỏi triết gia đó là ai. Thay vào đó, tôi định giành lấy cuốn sổ tay trong tay Elias để hệ thống lại những điểm kỳ lạ mà mình cảm nhận được, nhưng rồi lại thôi. Những hoạt động ghi chép mang danh nghĩa tự bào chữa và tự ám thị thực ra chẳng cần thiết chút nào với tôi. Nghĩ vậy, tôi thấy mình như đang ngồi trên đống lửa. Nếu lát nữa nhận lại cuốn sổ, có lẽ tôi phải viết những gì mình định viết thì cảm giác bối rối này mới biến mất.
Tôi ngước lên nhìn các bạn. Trà đã vơi một nửa. Tiên dược đang cưỡng ép bơm sức sống vào cơ thể, và gió biển lướt qua cổ áo chúng tôi. Ánh sáng đang dần lên cao quá đầu. Narke nhìn Elias, và tôi cũng nhìn theo hướng đó qua Narke. Elias, có vẻ đã thấy chúng tôi sẵn sàng, nở nụ cười tự tin:
"Nào, các cậu. May là lần này mọi chuyện sẽ đơn giản hơn nhiều so với cuộc đối thoại nãy giờ của chúng mình. Tớ sẽ nói ra suy đoán của mình, Narke, nếu cậu thấy ai khớp với mô tả thì bảo tớ ngay nhé! Tớ không rành tình hình ở Tòa thánh nên có thể sẽ đoán mò đấy."
"Tất nhiên rồi~ Nói đi."
"Di cốt của Thánh Mark không phải ở đây ngay từ đầu mà được đưa đến sau này. Đúng không?"
"Mọi người vẫn bảo thế."
"Vào thời đại đó, việc trộm di cốt chẳng phải là hành động được khuyến khích sao? Khi bộ xương trộm được từ Alexandria về đến Venezia, từ Tổng đốc đến dân chúng, rất nhiều người tin rằng họ đã được che chở bởi ân điển của Thánh Mark."
Tôi gật đầu. Rồi sao nữa? Elias giơ ngón trỏ lên, trừng mắt nhìn chúng tôi.
"Nào, trước hết chúng mình phải nghĩ đến câu trả lời dễ nhất.
'Thánh Mark' mà Einsiedel ám chỉ có thể hiểu theo nghĩa sơ đẳng nhất là gì? Thánh Mark là môn đệ yêu dấu của Thánh Peter. Đúng không? Dù tớ có ngủ gật đi nữa thì ít nhất cũng phải biết chừng đó."
"Phải, đúng rồi~" Narke gật đầu. Đây là thông tin đã xuất hiện khi tôi và Narke trò chuyện trước đó. Elias nói một cách nghiêm túc:
"Nhắc đến Lãnh địa Giáo hoàng các cậu nghĩ đến gì? Tớ thì nghĩ ngay đến Tòa thánh, nhắc đến Tòa thánh là nghĩ đến Thánh tòa, nhắc đến Thánh tòa là nghĩ đến Tòa Thánh Peter."
"Cậu đang chơi chữ đấy à?"
"Phải! Dù có hơi khác nhau nhưng cũng là cách diễn đạt khác cho cùng một thứ thôi. Giả sử kẻ phản bội Judas ở Tòa thánh của chúng mình khớp với biểu tượng Thánh Mark, thì Mark là…"
Elias khựng lại một chút, cậu ngước nhìn xung quanh. Sau đó, cậu quay lại nhìn chúng tôi và khẽ nói:
"Là Phủ Quốc vụ khanh Tòa Thánh."
"……."
"Nói cách khác, hung thủ nằm ở văn phòng thư ký của Tòa thánh. Nhưng nếu chỉ dừng lại ở đây thì chán quá. Vốn dĩ Phủ Quốc vụ khanh có Bộ Nội vụ, Bộ Ngoại giao… tóm lại là rất nhiều phòng ban và số lượng người làm việc ở đó không hề ít, vậy phải làm sao đây? Hơn nữa, những thứ như Phủ Quốc vụ khanh chắc hẳn các cậu cũng đã nghĩ tới ngay khi nhận được thư rồi, đúng không?"
"Đúng."
Chúng tôi gật đầu.
"Vì thế giờ chúng mình phải nghĩ tiếp. Là ai trong số họ? Dù không rõ tên Einsiedel đó là hạng người gì, nhưng thấy hắn có thể đối đầu ngang ngửa với các cậu thì chắc chắn không phải dạng vừa. Khả năng hắn đưa ra mật mã 'Thánh Mark' chỉ với một tầng nghĩa duy nhất là rất thấp. Như các cậu biết đấy, một biểu tượng có thể chứa đựng nhiều tầng ý nghĩa."
Ngay từ lúc cậu ấy dùng cụm từ 'biểu tượng Thánh Mark', tôi đã thấy cách chọn từ hơi lạ, hóa ra cậu ấy đang diễn giải Thánh Mark như một người nghiên cứu biểu tượng học (iconography) — nghĩa là cân nhắc đến hình tượng và tập hợp các ý nghĩa khả dĩ ẩn chứa bên trong đó.
Đọc được sự đồng tình trong ánh mắt chúng tôi, Elias tiếp tục:
"Bây giờ vấn đề là có quá nhiều thông tin. Chúng mình phải sàng lọc. Tớ đã thử nghĩ xem Einsiedel đã áp đặt hình ảnh nào lên biểu tượng Thánh Mark. Tại sao hắn lại gán cái tên tôn quý của Thánh Mark cho kẻ phản bội ở Tòa thánh? Nếu chỉ để cho biết kẻ đó thuộc Phủ Quốc vụ khanh, hắn đã có thể dùng manh mối khác."
À, khóe môi tôi dần nhếch lên. Tôi bắt đầu đoán được điều cậu ấy sắp nói. Narke cũng chống cằm, mỉm cười rạng rỡ nhìn Elias.
"Einsiedel đã lồng ghép những yếu tố tiêu cực vào 'nguyên mẫu của Thánh Mark' để truyền đạt cho chúng mình. Thánh Mark mà chúng mình nhận được tuyệt đối không phải là Thánh Mark nguyên bản. Đó là một Thánh Mark đã bị vẩn đục bởi những yếu tố tiêu cực. Chúng mình phải giải mã biểu tượng này. Một Thánh Mark bị phủ nhận. Một Thánh Mark bất khiết. Thật tình, đúng như cậu nói, đây chẳng phải chơi chữ gì cả, nhưng biết tìm đâu ra sự bất khiết ở một vị thánh cơ chứ?"
Elias nhướng mày cười với tôi. Rồi cậu chậm rãi cúi người về phía bàn, hạ thấp giọng nói một cách trầm lắng:
"Lúc nãy tớ có nói rồi đấy. Khi di cốt về đến đây, người dân Venezia chắc hẳn đã reo hò. Thế nhưng, vào khoảnh khắc di cốt của Thánh Mark cập bến, cũng có những thực thể không thể reo hò trước sự thật đó. Là ai vậy nhỉ?"

Giữ khẩu khí thanh khiết — không văn tục, không phá chính trị.
Nhập môn